Tài liệu ôn tập Lý thuyết và kỹ năng lập pháp
VBPL:
Hiến pháp 2013
Luật ban hành VBQPPL 2008
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND 2004
Phần 1. Lý thuyết
1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm và hoạt động XDVBPL
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động XDVBPL
• Truyền thống (truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo…)
• Học thuyết
Tây Âu thời trung cổ: tiêu biểu là Đơn-xcôt (tư tưởng giải quyết mối quan hệ giữa niềm tin và tri thức; ông muốn chứng minh sự tồn tại của thượng đế); Rôt gie bêcơn (đề cao khoa học và phẩm giá con người)
Anh quốc cận đại: Thomas hobbes (quan niệm con người đi đến khế ước xã hội để hình thành nhà nước)
Pháp cận đại: mongteskio (tác phẩm tinh thần pháp luật); jean Jacque rouseau (tác phẩm khế ước xã hội)
• Nhu cầu của xã hội
• Trình độ nhà lập pháp
• Nguyên tắc và cơ chế tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước
• Tư duy triết lí, quan điểm làm luật của mỗi quốc gia
• Hiện thực hóa tư tưởng của Hồ Chí Minh (ở Việt Nam)
• Quan điểm của NN về thẩm quyền ban hành, XDPL
• Tính tích cực chính trị pháp lý của người dân
• Tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa
• Quan niệm về pháp luật và nguồn pháp luật
2. Các hình thức/ mô hình XDPL trên thế giới
- Nhà nước thông qua cơ quan (hiến pháp)
(ví dụ: Việt Nam có Quốc hội ban hành Hiến pháp)
- Trưng cầu dân ý
- Nhà nước thừa nhận/ phê chuẩn (tập quán, công ước, tôn giáo)
(ví dụ: trung quốc là quốc gia áp dụng nhiều công ước quốc tế)
- Án lệ (ví dụ: Anh)
Common law
(thông luật) Civil law
(văn bản)
Các nước: Anh, Mỹ, Malaysia… Pháp, Đức, Thái Lan, Campuchia…
Nguồn pháp luật là án lệ Nguồn pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật
Ưu: Các nước thuộc hệ thống common law: pháp luật mềm dẻo, thẩm phán có thẩm quyền cao và linh hoạt; án lệ mở ra văn hóa tranh tụng. Nhược: Các nước thuộc hệ thống civil law: cứng nhắc, nhiều lỗ hổng.
Nhược điểm:
+ Hiểu được án lệ là cực khó
+ Tạo sức cản trong hội nhập quốc tế
+ Dễ bị lạc hậu
+ Công lý phụ thuộc vào thẩm phán và các thành viên tham gia tố tụng
+ Phụ thuộc vào hệ thống hóa án lệ Ưu điểm:
Đảm bảo tính tối cao của pháp luật.
Luật cần linh hoạt, mềm dẻo, giải quyết nhiều vấn đề; luật cũng cần đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
Xu hướng hiện nay trên thế giới là tích hợp:
Các nước theo hệ thống thông luật thì “sản xuất” nhiều hơn các văn bản luật do:
Nhu cầu của xã hội
Án lệ có bất cập so với sự phát triển của xã hội (hạn chế nhược điểm của án lệ)
Các nước theo hệ thống văn bản thì họ áp dụng nhiều hơn xu hướng án lệ
Án lệ là:
Là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử cấp trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể, làm cơ sở để áp dụng đối với các trường hợp tương tự. Hình thức này xuất phát từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp (hành pháp: chính phủ; tư pháp: tòa án)
Vì vậy, nó dễ tạo sự tùy tiện, ảnh hưởng đến tính thống nhất của pháp luật, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế XHCN là phải tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp chế.
Tập quán: là những cách xử sự trong sinh hoạt thường ngày đã trở thành thói quen, thành nếp sống của một cộng đồng hoặc của toàn xã hội. Phạm vi tác động của tập quán thường hẹp hơn so với pháp luật
Tập quán bao gồm thói quen về suy nghĩ, về mọi mặt sinh hoạt của đời sống xã hội.
Ví dụ: tập quán du canh, du cư…
Tập quán áp dụng muốn trở thành nguồn của pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu:
• Lâu đời
• Trường tồn
• Người dân chấp nhận
• Phù hợp
3. Khái niệm
- Theo nghĩa hẹp:
Xây dựng VB pháp luật: chỉ bao gồm các công việc ban hành; thông qua văn bản quy phạm pháp luật.
- Theo nghĩa rộng:
Xây dựng VB pháp luật bao gồm rất nhiều hoạt đọng từ chuẩn bị, soạn thảo dự án văn bản quy phạm pháp luật đến các khâu tiếp theo…
- Quan điểm thừa nhận chung là quan điểm xây dựng pháp luật theo nghĩa rộng. Phải hiểu XDVBPL là:
+ Một quá trình hoạt động thường xuyên, liên tục, có khâu đầu và khâu cuối chứ không chỉ là một động tác thuần túy về tổ chức hay kỹ thuật
+ XDVBPL là hình thức hoạt động nhà nước hướng tới việc xây dựng, hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ các văn bản quy phạm pháp luật
+ Về bản chất, hoạt động XDVBPL là việc đưa ý chí nhà nước vào các văn bản quy phạm pháp luật, vào quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tương ứng của nhà nước
+ Hoạt động XDVBPL còn được gọi là hoạt động sáng tạo pháp luật của nhà nước
- Bản chất của hoạt động XDVBPL
Ở khía cạnh chính trị: XDVBPL là hoạt động nhằm thể hiện ý chí của nhà nước thành pháp luật, đây là quá trình “nhận thức và thể hiện các lợi ích của xã hôi…của nhóm xã hội…”
Ở khía cạnh kỹ thuật pháp lý, XDVBPL là “quá tình sáng tạo pháp luật…hình thành hệ thống các quy định pháp luật”
XDPL/ XDVBPL là một hoạt động Kỹ thuật – pháp lý mang tính chính trị, về bản chất là hoạt động nhằm tạo ra các quy phạm pháp luật. Đó là hoạt động đưa ý chí của nhà nước của nhân dân lên thành pháp luật
Ở Việt Nam, XDVBPL là hoạt động mang tính tổ chức chặt chẽ, được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Cụ thể:
Việc xây dựng và ban hành các văn bản của chính quyền trung ương được thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 + nghị định số 24/2009/NĐ-CP
Còn việc xây dựng và ban hành các văn bản của chính quyền địa phương được thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004
Định nghĩa XDVBPL: là một trong những hình thức đặc biệt quan trọng, cơ bản nhất của hoạt động nhà nước, nhằm ban hành, sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ các quy phạm luật, được thực hiện trên cơ sở nhận thức các nhu cầu khách quan của xã hội, các lợi ích xã hội. XDVBPL được thực hiện theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục pháp lý nhất định nhằm đưa ý chí nhà nước của nhân dân lên thành các quy phạm pháp luật.
Tiếp tài liệu LT&KN Lập pháp
4. Đặc điểm
- XDPL là một hình thức hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định nhằm đưa ý chí nhà nước của nhân dân lên thành pháp luật + Pháp luật không phải là sản phẩm thuần túy, độc quyền của nhà nước mà bao gồm xã hội kiến tạo và chấp nhận
- XDVBPL là hoạt động mang tính sáng tạo, khách quan, đảm bảo công bằng, hài hào các mặt lợi ích.
Ví dụ: cải cách căn bản và toàn diện giáo dục việt Nam
Xu hướng hiện nay là: Giảm + Tăng.
Ví dụ: Trong giáo dục: Giảm (số lượng môn học; giảm học thuộc lòng); Tăng (Rèn luyện, hướng dẫn, yêu cầu thực hành, tư duy, năng lực nhận thức)
- Khẳng định vai trò của khoa học pháp lý trong xây dựng pháp luật
- Theo đúng thủ tục, trình tự quy định của pháp luật
- Đáp ứng yêu cầu, nguyên tắc của nhà nước pháp quyền: công nhận, đảm bảo, bảo vệ quyền con người
Một văn bản luật được ban hành có sự đóng góp lớn của người ra quyết định, vì vậy, người ra quyết định cần đáp ứng điều kiện:
- Phải có thông tin đầy đủ về vấn đề mà mình cần phải quyết định
Những thông tin này bao gồm:
Vấn đề mà xã hội đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết vấn đề là gì?
Nguyên nhân của vấn đề ấy là ở đâu?
Sự tồn tại của vấn đề này (nếu ko được giải quyết) sẽ mang lại tác hại gì cho xã hội?
Ai (nhóm đối tượng nào) là người phải chọi những tác hại đó?
Mức độ ohaan bố tác hại đó có đồng đều không?
Xã hội cần những giải pháp về nguồn lực, về tổ chức, về nhân lực, về hệ thống truyền thông…như thế nào để giải quyết các vấn đề đó?
Nguồn lực giải quyết các vấn đề đó lấy từ đâu?
- Người ra quyết định cần có năng lực xử lý thông tin do mình thu thập được hoặc được cung cấp => để nhận diện vấn đề => chọn lực được giải pháp tối ưu xử lý vấn đề
5. Nguyên tắc XVBDPL
Hoạt động xây dựng pháp luật là một hình thức hoạt động cơ bản của nhà nước. hoạt động XDVBPL phải xây dựng một số nguyên tắc nhất định:
+ NT1: Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. HĐXDVBPL là kênh quan trọng nhất mà thông qua đó, chủ trương chính sách của Đảng được nhà nước đưa vào cuộc sống.
+ NT 2: Nguyên tắc khách quan. HĐXDVBPL chỉ mang tính khách quan khi văn bản quy phạm pháp luật đã được thông qua phản ánh được các nhu cầu và điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội. Vì vậy cần quan tâm tới các nhà khoa học trong việc tham gia xây dựng VBPL
+ NT3: Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này thể hiện sự tham gia của nhân dân lao động và các tổ chức xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật. Phải đề cao vai trò của các tần lớp lao động và các tổ cức xã hội trong HĐXDVBPL và giải quyết những vấn đề của hoạt động đó
+ NT4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật không được ban hành các văn bản luật trái với thẩm quyền của mình. Khi thực hiện HĐXDVBPL phải tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục do pháp luật quy định. Các văn bản của cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản dưới luật phải phù hợp với hiến pháp và văn bản luật
+ Ngoài ra còn có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc nhân đạo;
Nguyên tắc công bằng;
Nguyên tắc bình đẳng;
Nguyên tắc bảo đảm sự tương thích giữa luật quốc gia và công ước quốc tế đã kí kết (nguyên tắc mới)
Nguyên tắc bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật – đạo đức – nhu cầu xã hội
6. Quy trình LẬP PHÁP
6.1. Khái niệm
Quy trình XDVBPL: gồm các bước, công đoạn được thiết kế, xác định theo một trật tự logic, theo luật định nhằm tạo ra các BPL hợp lý có chất lượng tốt trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
6.2. Quy tình XDPL chung
Công đoạn 1. xây dựng chính dsách/ lập chính sách
B1. Đề xuất chính sách: Phát hiện ra các vấn đề; phân tích chính sách; đánh giá tác động của chính sách pháp luật đang hiện hành
B2: Phân tích lợi ích chính sách của chủ thể có liên quan sau này:
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, có 7 yếu tố tác động lên hành vi của con người
- Pháp luật
- Cơ hội
- Năng lực
- Thông tin
- Lợi ích
- Quy trình
- Niềm tin
Điều chỉnh các yếu tố này sẽ trực tiếp tác động tới hành vi của con người. Tất cả các hành vi của con người đều chịu tác động của 7 yếu tố nói trên. Trong quá trình nghiên cứu, để đề ra chính sách lập pháp và soạn thảo văn bản pháp luật, cần làm rõ yếu tố nào là nguyên nhân chính mới đề ra được những giải pháp thiết thực, hiệu quả
- Pháp luật: pháp luật quy định không rõ ràng hoặc chồng chéo có thể là nguyên nhân của việc làm thế nào cũng được hoặc không biết phải làm thế nào
- Cơ hội: không có cơ hội vi phạm thì không thể vi phạm, ngược lại, có cơ hội để gây khó dễ, một số quan chức sẽ tận dụng để nhũng nhiễu. Để điều chỉnh hành vi của con người chúng ta có thể tạo điều kiện cho các hành vi liên quan có thể xảy ra hoặc làm ngược lại để hạn chế chúng
- Năng lực: không có năng lực thì công việc không thể được giải quyết.
- Thông tin: không biết các quy định của pháp luậ thì khó có thể tuân thủ chúng. Thông tin là cách điều chỉnh hành vi hữu hiệu và nhân bản. Nó ít xúc phạm con người
- Lợi ích: đánh vào lợi ích thì điều chỉnh được hành vi. Có lẽ đây là cách được chúng ta áp dụng nhiều nhất hiện nay. Tuy nhiên, phạt nặng nhiều khi chưa chắc đã giải quyết được vấn đề, đặc biệt là trong điều kiện năng lực của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật hạn chế. Phạt nặng trong điều kiện như vậy chỉ khuyến khích việc che giấu vi phạm và làm cho vấn đề trầm trọng hơn
- Quy trình: thiết lập một quy trình chuẩn, các quyết định có thể được đưa ra theo ý muốn chủ quan của các quan chức. Hậu quả là tham nhũng, tiêu cực sẽ xảy ra. Áp đặt một quy trình là tạo hành lang dẫn dắt hành vi con người
- Niềm tin: lòng tin có thể dẫn dắt hành động của con người
Công đoạn 2: Soạn thảo dự án luật, văn bản luật
Mô hình 1: Giao cho các cơ quan chủ quản (các bộ)
Mô hình2: Giao cho 1 hội đồng chuyên môn (các chuyên gia pháp luật)
Công đoạn 3: Tham vấn công chúng
Công đoạn 4: Xem xét thảo luận, thông qua và ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền
6.3 Quy trình XDVBPL ở Việt Nam
- Giai đoạn 1: đề xuất về sự cần thiết ban hành văn bản quy pháp luật mới (hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ), thông qua quyết định về soạn thảo dự án văn bản pháp luật liên quan. Trong quyết định soạn thảo dự án văn bản quy phạmn pháp luật cần xác định rõ cơ quan có trách nhiệm soạn thảo.
- Giai đoạn 2. Soạn thảo dự án băn bản quy phạm pháp luật. Bao gồm các công việc:
• Xây dựng mô hình, cơ cấu của VBPL
• Soạn thảo dự án (bao gồm: Soạn thảo văn bản, thảo luận, sửa đổi, lấy ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc trong các tầng lớp nhân dân)
• Thẩm định dự án pháp luật đã được soạn thảo và cùng với những luận chứng cần thiết chính thức trình cơ quan có thẩm quyền ban hành
- Giai đoạn 3 là thảo luận và thông qua dự án ở cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật. Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình XDVBPL. Ví dụ: tại kỳ họp quốc hội, sẽ tiến hành thảo luận và thông qua các dự án luật. Dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội và của ủy ban thường vụ quốc hội. Các đại biểu quốc hội biểu quyết thông qua dự án luật hay các văn abnr quy phạm pháp luật khác
- Giai đoạn 4 công bố văn bản quy phạm pháp luật, đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình XDVBPL. Luật bản hành văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền công bố các văn bản pháp luật. Ví dụ: điều 50 luật ban hành các Văn bản quy phạm pháp luật quy định. Chủ tịch nước sẽ ban hành Lệnh công bố luật, nghị quyết của Quốc hội trong thời hạn chấm nhất là 15 ngày kể từ ngày Luật, nghị quyết được thông qua.
Tiếp LT&KN Lập pháp
7. Văn bản pháp luật
Các văn bản pháp luật rất đa dạng, phong phú, căn cứ vào tính chất pháp lý có thể phân chia thành ba loại cơ bản: Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật có tính chất chủ đạo, văn bản pháp luật cá biệt.
- 7.1. Văn bản pháp luật chủ đạo
Văn bản pháp luật chủ đạo là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định nhằm để tạo ra những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ lớn có tính chất chiến lược, quyết định những vấn đề chung của quốc gia và địa phương.
Các văn bản pháp luật chủ đạo không trực tiếp thể hiện các quy phạm pháp luật song lại là cơ sở để ban hành của các văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ, các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ của hội đồng nhân dân các cấp đều thuộc loại văn bản pháp luật có tính chất chủ đạo.
7.2. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống
7.2.1. Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật:
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Là văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung
- Được áp dụng nhiều lần trong đời sống, được áp dụng trong mọi trường hợp khi có các sự kiện pháp lý tương ứng xảy ra chừng nào chưa hết hiệu lực.
• Như vậy, không phải tất cả các văn bản pháp luật đều là văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản pháp luật nào có các đặc điểm nêu trên.
• Những văn bản pháp luật sau đây luôn là văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư.
• Các văn bản pháp luật khác có thể là văn bản quy phạm pháp luật hoặc không là văn bản quy phạm pháp luật
7.2.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
Theo điều 2 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
a) Các văn bản luật:
Hiến pháp, Luật do Quốc hội ban hành
b) Các văn bản dưới luật bao gồm:
- Nghị quyết do Quốc hội ban hành. Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quốc hội như để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước v.v…
- Pháp lệnh, Nghị quyết do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành;
- Lệnh, Quyết định do chủ tịch nước ban hành;
- Nghị định của chính phủ, Quyết định của thủ tướng chính phủ;
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước
- Nghị quyết của hội đồng nhân dân;
- Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân.
7.2.3. Hiệu lực
• Hiệu lực của VBQPPL là giới hạn về thời gian, không gian (theo lãnh thổ), về đối tượng thi hành mà VBQPPL đó tác động tới.
a. Hiệu lực về thời gian là khoảng thời gian có hiệu lực của VBQPPL, là thời điểm bắt đầu và chấm dứt hiệu lực của VBQPPL
• Các cách xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực thời gian của văn bản QPPL như sau: Thời điểm bắt đầu có hiệu lực được ghi nhận trong văn bản QPPL (thường ở cuối văn bản); Văn bản quy phạm pháp luật bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm công bố, Sau thời điểm công bố một thời gian xác định (thường được ghi trong văn bản quy phạm pháp luật đó)
• Thời điểm hết hiệu lực của VBQPPL, theo nguyên tắc chung được tính từ thời điểm VBQPPL mới có hiệu lực thay thế, bị bãi bỏ bằng 1 VBPL của cơ quan NN có thẩm quyền hoặc đã hết hạn có hiệu lực đã được quy định trong VBQPPL (điều 78 VBQPPL)
b. Khái niệm: hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực
• Các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước
• Văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, UBND có hiệu lực trong phạm vi đia phương
c. hiệu lực theo đối tượng của VBQPPL
Nguyên tắc chung, các VBQPPL có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các công dân, tổ chức VN, cá nhân, tổ chức nước ngoài trừ trường hợp Theo luật Việt Nam/ theo điều ước quốc tế mà VN kí kết
• Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân chỉ chịu sự điều chỉnh bởi các VBQPPL khi họ thuộc đối tượng điều chỉnh của VBQPPL đó.
7.3. Văn bản pháp luật các biệt - văn bản áp dụng pháp luật
Văn bản pháp luật cá biệt là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hành thức nhất định căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vụ việc cụ thể. Ví dụ, các quyết định hành chính về khen thưởng, kỷ luật cán bộ; bản án của tòa án v.v…Văn bản pháp luật cá biệt còn được gọi là văn bản áp dụng pháp luật và được đề cập trong chương thực hiện và áp dụng pháp luật.
Đặc điểm của VBADPL
• VBADPL do cơ quan NN có thẩm quyền ADPL ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
• VBADPL có tính chất cá biệt, một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định
• VBADPL được thể hiện trong hình thức pháp lí xác định như: bản án, quyết định khen thưởng, kỷ luật, lệnh…
• VBADPL là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp, thiếu nó nhiều quy định không thể thực hiện được
• VBADPL phải hợp pháp + phù hợp với thực tế
Ví dụ:
• Quan hệ pháp luật Theo luật hôn nhân và gia đình muốn xuất hiện thì cần các yếu tố phức tạp như:
• Độ tuổi + năng lực hành vi + sự tự nguyện cam kết của nam, nữ…= cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hôn nhân
Phân loại. Căn cứ vào nội dung và nhiệm vụ của VBADPL chia thành: VB xác định quyền và nghĩa vụ theo hướng tích cực, VB bảo vệ pháp luật
• VB xác định quyền và nghĩa vụ theo hướng tích cực: Là văn bản trong đó xác định cụ thể ai có quyền chủ thể, ai có nghĩ vụ pháp lí bằng cách cá biệt hóa phần quy định của QPPL
VD: Quyết định nâng bậc lương, quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất…
• VB bảo vệ pháp luật: là văn bản chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
VD: Bản án hình sự, quyết định xử phạt vi phạm hành chính
- Việc ban hành VBADPL là hoạt động thể hiện rất rõ trình độ và tính sáng tạo của chủ thể có thẩm quyền ADPL, bời vì, qua quyết định ADPL, những tình tiết của vụ việc được đánh giá chính thức mang tính pháp lí, có cơ sở khoa học và thực tiễn.
- Những quyền và nghĩa vụ chung chứa đựng trong các VBQPPL được cá biệt hóa, cụ thể hóa
• Yêu cầu đối với 1 VBADPL
• VBADPL phải được ban hành hợp pháp:
đúng thẩm quyền,
đúng tên gọi,
đúng trình tự, thủ tục do PL quy định
• Nội dung VBADPL phải:
Rõ ràng
Chính xác
Đầy đủ (chứa đựng thông tin cần thiết như: tên cơ quan ban hành, số và kí hiệu VB, địa điểm, thời gian ban hành, chữ kí, con dấu, quốc hiệu, quốc huy, tên chủ thể áp dụng, nội dung sự việc, căn cứ pháp lí…
• VBADPL phải có cơ sở pháp lí (căn cứ vào quy định nào của pháp luật, chỉ rõ điều khoản, áp dụng)
• VBADPL phải được ban hành có cơ sở thực tế. Nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào sự kiện thực tế 1 cách dầy đủ, chính xác, có thật và đáng tin cậy
• VBADPL phải được ban hành phù hợp với điều kiện thực tế của cuộc sống (khả năng thực hiện trong tương lai) Sự phù hợp với điều kiện thực tế cụ thể: vật chất, kỹ thuật, tổ chức….đảm bảo cho văn bản có tính thực hiện
• VBADPL phải đảm bảo tính tối ưu, nghĩa là phải có lợi nhất về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, tinh thần và xã hội.
Biểu quyết thông qua:
1. Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa (>1/2) tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành;
2. Trường hợp làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội phải được ít nhất hai phần ba (>= 2/3) tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa (> ½) tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.
4. Luật, pháp lệnh phải được công bố chậm nhất là mười lăm (15) ngày, kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại pháp lệnh.
Phần 2. Thực hành:
Chú ý: đối với phân thực hành, cần bảo đảm một số nội dung cơ bản sau:
- Thẩm quyền và hình thức của văn bản (căn cứ vào kinh nghiệm thực tế và đặc biệt là căn cứ vào quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội dồng nhân và ủy ban nhân dân 2004 để xác định thẩm quyền và hình thức của văn bản)
- Nội dung cần bảo đảm:
+ Cơ sở ban hành
+ Các biện pháp chỉ đạo
+ Kết thúc
Ví dụ:
• Soạn thảo văn bản pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B để chỉ đạo công tác giữ gìn an ninh trật tự.
• Soạn thảo văn bản pháp luật để điều động công tác.
DÀI QUÁ, PHẢI TÁCH LÀM 3 ĐOẠN (ĐÂY LÀ ĐOẠN CUỐI)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét